1. Đặt vấn đề

Những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường ở môi phường Vạn Phúc diễn ra đặc biệt nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước và tiếng ồn. Trong quá trình sản xuất sử dụng hóa chất, thuốc nhuộm để tẩy, in, nước thải dịch nhuộm sau các công đoạn sản xuất không được xử lý đổ thẳng ra cống rãnh và xả xuống sông Nhuệ gây ô nhiễm tầng nước mặt. Ngoài ra tiếng ồn phát sinh do vận hành máy dệt, quấn sợ và do sự va chạm của thoi trong khi dệt, guồng sợi gây ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và đời sống của người dân.

Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của môi trường làng nghề Vạn Phúc đến sức khỏe người dân tại phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, TP Hà Nội, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề Vạn Phúc.

2. Phương pháp nghiên cứu

2.1. Chọn điểm nghiên cứu

Phường Vạn Phúc có dân số 15.713 người, mật độ 6.043 người/km2. Vạn Phúc là một làng nghề đã có từ laai đười và nổi tiếng với những mặt hàng lụa truyền thống chất lượng cao. Ở đây môi trường đang bị ô nhiễm trầm trọng do ảnh hưởng của việc phát triển làng nghề. Nguồn nước mặt bị nhiễm các chất như N2CO3, H2S…do hóa chất thải ra từ quá trình dệt. Người dân ở đây còn sử dụng thuốc nhuộm axit, thuốc nhuộm lưu huỳnh (đá, Na2S) lâu ngày, nước thải ngấm dần xuống mạch nước ngầm gây tanh, hôi. Hiện nay, nhiều hộ có người mắc bệnh về đường hô hấp chiếm từ 15 – 30%, người mắc các chứng bệnh về mắt chiếm 30% và một số bệnh như viêm mũi, viêm xoang (Trạm Y tế phường Vạn Phúc, 2014). Nước bề mặt chảy qua rác thải, thẩm thấu vào đất gây ô nhiễm môi trường đất và nước nghiêm trọng, gây mất mỹ quan và ảnh hưởng đến sửa khỏe con người trong khu vực.

2.2. Phương pháp thu thập số liệu

Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo KT-XH của phường Vạn Phúc. Nguồn thông tin sơ cấp được thu thập thông qua 60 mẫu phiếu điều tra hộ sản xuất với các nhóm quy mô hộ khác nhau. Để phản ánh được sự ảnh hưởng cảu phát triển làng nghề đến môi trường tại Vạn Phúc, nghiên cứu đã thu thập tài liệu thông qua khảo sát trực tiếp từ cán bộ của phường và người dân sống trong khu vực.

2.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Để phân tích và xử lý số liệu, các phương pháp nghiên cứu truyển thống đã được sử dụng như: Phương pháp thông kê mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia chuyên khảo. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp ĐTM để đo lường mức độ ô nhiễm tại làng nghề Vạn Phúc.

3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Thực trạng ô nhiễm môi trường tại làng nghề dệt

3.1.1. Quá trình phát thải của làng nghề dệt Vạn Phúc

Sơ đồ 3.1 thể hiện dòng thải của làng nghề Vạn Phúc. Theo đó, có 8 bước sản xuất lụa, từ chập tơ, xe tơ đảo tơ tới dệt lụa thành phẩm mà mỗi quá trình đều có sự phát thải.

Giai đoạn chập tơ, xe tơ và đảo tơ sử dụng các loại máy xe tơ với công suất cao, sản xuất tạo ra rất nhiều tiếng ồn, đồng thời hiện tượng tơ vụn, bụi bông cũng được hình thành từ quá trình xe sợi thành từng bó. Tiếp theo, chuội tơ là công đoạn rửa sợi sau khi xe trong nước hóa chất được đun nóng nhằm làm sạch sợi, loại bỏ các chất keo. Công đoạn này sử dụng rất nhiều các loại hóa chất để đun nóng sợi ở nhiệt độ cao nên phát thải rất nhiều các hóa chất tẩy rửa như xà phòng, nước Javen và các loại hóa chất tổng hợp khác. Đồng thời, hầu hết các hộ gia đình chủ yếu sử dụng than đá, than tổ ông để đốt gia nhiệt nên phát thải rất nhiều khí đốt than và hơi hóa chất do bị đốt nóng ở nhiệt độ từ 70 – 80 độ.

1.png

Sơ đồ 3.1. Sơ đồ dòng thải quá trình dệt nhuộm tại làng nghề Vạn Phúc

Tiếp tục đến công đoạn giặt để làm sạch tơ sau khi chuội. Khảo sát cho thấy quá trình giặt của các hộ gia đình cũng sử dụng rất nhiều các loại hóa chất tẩy rửa. Tơ sau khi được chuội lại tiếp tục được luộc ở nhiệt độ cao với các hóa chất tẩy rửa để làm sạch hoàn toàn các hóa chất của quá trình chuội gây ảnh hưởng xấu tới chấ lượng tơ.

Nhuộm tơ được xem là công đoạn phát thải nhiều nhất của hoạt động sản xuất. Để nhuộm được tơ, rất nhiều các loại hóa chất và thuốc nhuộm với nhiều gốc tự do khác nhau. Hiện người dân tại Vạn Phúc sử dụng rất nhiều các kỹ thuật nhuộm khác nhau, trong đó có rất nhiều hóa chất chứa các loại kim loại nặng, gốc axit, clorua gây ô nhiễm cho môi trường nước.

Thuốc nhuộm trực tiếp hầu hết là muối Na của các axit sunfonic hay axit cacbonxilic hữu cơ của các hợp chất kiểu monoazo, diazo và đa số là polyazo; một số có gốc là các hợp chất ftaloxianin và các hợp chất khác nữa. Tất cả thuốc nhuộm trực tiếp đều hoà tan trong nước, khi tan trong nước chúng phân ly thành ion âm mang màu và ion dương không mang màu. Đa số thuốc nhuộm trực tiếp dễ tạo thành kết tủa với các muối của kim loại kiềm thổ (Ca và Mg) nên khi nhuộm phải dùng nước mềm hoặc thêm dung dịch nhuộm Natri Cacbonat hay hexametaphotphat Natri. Do có đủ các màu (đủ gam màu), giá thành rẻ nên thuốc nhuộm trực tiếp được sử dụng rộng rãi để nhuộm xơ xenlulozơ (bông, vixcozơ), tơ tằm và xơ polyamit.

   Nhiệt độ cũng có ảnh hưởng lớn đến quá trình nhuộm. Thông thường vải bông được nhuộm bằng thuốc nhuộm trực tiếp ở 85 - 95oC, còn lụa tơ tằm ở 80 - 85oC, vải polyamit ở 85-90oC.  Điều này sẽ làm gia tăng nhiệt độ trong xưởng sản xuất.

Cũng giống như thuốc nhuộm trực tiếp, thuốc nhuộm axit là các muối sunfonat Natri của các hợp chất hữu cơ khác nhau. Thuốc nhuộm axit đơn giản nhất như thuốc nhuộm axit màu đỏ bôc-đô Công thức tổng quát của thuốc nhuộm axit cũng có dạng tổng quát R-SO3Na, và được xem như muối của axit hữu cơ mạnh và một bazơ mạnh, nên khi hoà tan trong nước chúng có phản ứng trung tính và phân ly triệt để thành các anion mang màu (RSO3-) và cation không mang màu. Những yếu tố này gây nên ô nhiễm nặng nề cho nguồn nước.

Sau khi kết thúc quá trình nhuộm, tơ sợi được giặt với nước để làm sạch, nguồn nước thải chứa hóa chất vẫn tiếp tục được thải ra môi trường. Sau đó, tơ được đưa vào dệt. Công đoạn này phát thải nhiều tơ vụn và tiếng ồn gây ra nhiều bệnh lý về hô hấp cho người dân xung quanh.

3.1.2. Ô nhiễm môi trường không khí

·         Ô nhiễm môi trường không khí xung quanh các khu vực sản xuất

Khí thải được phát sinh chủ yếu từ các phân xưởng nhuộm, lò hơi và các lò nấu tẩy nhỏ dùng than để phục vụ cho quá trình giặt nóng, nấu, sấy, nhuộm… Còn tiếng ồn sinh ra chủ yếu do vận hành máy dệt và quấn sợi, sự va chạm của thoi và khi guồng sợi vào các ống sợi.

Bảng 3.1. Ô nhiễm môi trường không khí xung quanh khu vực sản xuất

TT

Thông số

ĐVT

Kết quả

Năm 2015

So với QCVN

1

Nhiệt độ

to

34

34

2

Tiếng ồn

DbA

60 - 90.5

55-74

3

Bụi

µg/m3

411

300

4

SO2

µg/m3

1242

350

5

NO2

µg/m3

355

200

6

CO

µg/m3

44300

30000

7

Pb

µg/m3

0.03

1.5

Nguồn: UBND quận Hà Đông và QCVN 05:2013/BTNMT

Theo kết quả quan trắc môi trường của quận Hà Đông cho thấy, các chỉ tiêu ô nhiễm về không khí đều vượt ngưỡng cho phép. Về tiếng ồn đo được tại các thời điểm để cho thấy, tiếng ồn do các loại máy móc phát ra cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn Việt Nam. Bên cạnh đó hàm lượng bụi đo được cũng cao hơn 30% so với tiêu chuẩn, lượng khí SO2 cũng cao hơn gấp 4 lần so với tiêu chuẩn, lượng khí NO2 – khí gây hiệu ứng nhà kính cao hơn 155 đơn vị và lượng khí CO cao hơn tới 50% điều đó cho thấy lao động của làng nghề đang phải chịu ảnh hưởng không nhỏ từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề.

·         Ô nhiễm môi trường không khí tại nơi sản xuất

Ngay tại nơi sản xuất, kết quả khảo sát về môi trường cho thấy các chỉ số đều cao hơn so với tiêu chuẩn rất nhiều lần. Về nhiệt độ, do nhiên liệu chủ yếu được các hộ sử dụng là than đá, than tổ ong nên nhiệt độ trong các xưởng sản xuất khá cao. Cộng với các xưởng sản xuất nằm trong khu dân cư có diện tích nhỏ hẹp càng làm không khí càng trở nên ngột ngạt. Nhiều hộ gia đình sản xuất ngay tại nhà, với diện tích mặt bằng hẹp, không được trang bị hệ thống thông gió, các lò thủ công giản đơn khiến ô nhiễm không khí có xu hướng gia tăng. Bên cạnh đó hàm lượng bụi cũng cao hơn so với quy chuẩn QCVN 05/2013 về tiêu chuẩn không khí khu vực sản xuất 256 đơn vị.

Bảng 3.2. Ô nhiễm môi trường không khí tại nơi sản xuất

TT

Thông số

ĐVT

Kết quả

Năm 2015

So với QCVN

1

Nhiệt độ

to

39

34

2

Tiếng ồn

dBA

100

55-74

3

Bụi

µg/m3

556

300

4

SO2

µg/m3

3246

350

5

NO2

µg/m3

452

200

6

CO

µg/m3

92000

30000

7

Pb

µg/m3

1.32

1.5

Nguồn: UBND quận Hà Đông và QCVN 05:2013/BTNMT

Chỉ số ô nhiễm tiếng ồn cũng cao hơn so với khu vực xung quanh 10%. Đặc biệt, hàm lượng SO2, CO và NO2 trong các xưởng sản xuất rất cao. Lượng khí SO2 cao hơn gần 10 lần và lượng CO cao hơn tới 3 lần. Tất cả các chỉ số về ô nhiễm đều cao hơn mức quy định cho thấy, người lao động đang hoạt động trong các xưởng sản xuất này phải chịu áp lực rất lớn về ô nhiễm môi trường.

 

3.1.3. Ô nhiễm môi trường nước

Lượng nước thải dùng trong các khâu dệt lụa, tẩy, nhuộm ở Vạn Phúc khá lớn. Trung bình một hộ làm nghề dệt dùng 2,84m3/ngày cho sản xuất, bao gồm nước thải dịch chuội 0,18m3, nước thải nhuộm 0,22m3, nước thải giặt một lần 0,4m3 và các nước thải khác 2,04m3.

Hàm lượng BOD và COD trong nước thải do làng nghề Vạn Phúc thải ra cao gấp hàng trăm lần so với tiêu chuẩn cho phép về chất lượng nước mặt (QCVN 08-MT:2015/BTNMT). Lượng nước thải sau sản xuất cùng nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý chảy hòa chung vào mương thoát nước rồi chảy ra sông Nhuệ gây ô nhiễm lớn. Tổng lượng nước sau sản xuất và nước thải sinh hoạt ở Vạn Phúc từ 235,3 - 285,3 m3/ngày. Nước thải sau sản xuất chứa nhiều hóa chất chưa qua xử lý của các làng nghề dệt, nhuộm chảy trực tiếp ra các thủy vực đang gây ô nhiễm tầng nước mặt.

Bên cạnh các chỉ tiêu về hàm lượng COD, BOD, giá trị pH của các mẫu nước phân tích là 10,1 cao hơn so với tiêu chuẩn Việt Nam từ 1 – 5 chỉ số. Nguyên nhân là do các hoạt chất tẩy rửa gốc bazo khiến nồng độ pH trong nước tăng cao. Chỉ số clorua trong nước cao hơn từ 2 – 4 lần do các hóa chất tẩy rửa, thuốc nhuộc có chứa clo và Na.

Bảng 3.3. Kết quả phân tích mẫu nước thải ở làng nghề

TT

Thông số

ĐVT

Kết quả

Năm 2015

So với QCVN 08

1

pH

-

10.1

5.5-9

2

COD

Mg/l

11421

50 - 100

3

BOD

Mg/l

5680

30 - 50

4

Chất rắn lơ lửng

Mg/l

123

100

6

Clorua

Mg/l

4.5

1-2

7

Cd

Mg/l

0.16

0.1-0.2

8

Pb

Mg/l

0.44

0.1-0.5

9

Cu

Mg/l

4

2

12

As

Mg/l

0.05

0.05-0.1

13

Hg

Mg/l

0.003

0.005-0.01

14

Cr

Mg/l

0.05

0.1

15

Nitrit

Mg/l

45

15-30

16

Amoniac

Mg/l

20

5- 10

17

Gốc sunfual

Mg/l

5

0.2-0.5

18

Coliform

MNP/100ml

150000

3000-5000

Nguồn: UBND quận Hà Đông và QCVN 08-MT:2015/BTNMT

Hàm lượng các kim loại nặng trong đó có đồng có hàm lượng cao gấp đôi so với chỉ tiêu. Các chỉ tiêu về Nitrit, gốc amoni, gốc sunfua, gốc Coliform đều cao hơn so với quy định nhiều lần. So sánh kết quả một số chỉ tiêu nguồn nước mặt và nước ngầm xung quanh các cơ sở sản xuất cho thấy, các giá trị tham chiếu về ô nhiễm nước mặt cao hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn.

Bảng 3.4. Kết quả so sánh một số chỉ tiêu các mẫu nước tại làng nghề

Nội dung

ĐVT

Chỉ số

QCVN 08

1.Nước mặt

 

 

 

pH

-

10.5

5.5-9

COD

Mg/l

5422

50 - 100

BOD

Mg/l

1127

30 - 50

DO

Mg/l

3

>5g/ml

2.Nước ngầm

 

 

 

Clorua

Mg/l

3

1-2

Nitrit

Mg/l

35

15-30

Armoniac

Mg/l

13

5- 10

Sunfua

Mg/l

2.8

0.2-0.5

Asen

Mg/l

0.2

0.05-0.1

Nguồn: UBND quận Hà Đông và QCVN 08-MT:2015/BTNMT

3.2. Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe của người dân

3.2.1. Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe người dân

·         Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí

Ảnh hưởng sức khỏe đầu tiên là các loại bệnh mắc phải do ô nhiễm môi trường. Có thể thấy sự khác biệt về số người bị mắc các bệnh về hô hấp giữa người làm nghề dệt nhuộm và người không làm trong làng nghề. Kết quả cho thấy, rất nhiều lao động làng nghề bị các bệnh về hô hấp. Trong đó chủ yếu là viêm mũi dị ứng và viêm họng mãn tính. Theo nhiều người dân làm nghề, nguyên nhân là do phải thường xuyên hít bụi bông, hơi hóa chất và khí than nên rất dễ bị kích thích mũi. Hầu hết người dân làm nghề khi thay đổi thời tiết hoặc không mang đồ bảo hộ lao động đều bị sổ mũi và hắt hơi liên tục. Trong khi đó, các những người không làm việc trong làng nghề có tỷ lệ thấp hơn.

Bảng 3.5. Một số loại bệnh người dân mắc phải do ô nhiễm không khí

Loại bệnh

Hộ có người

hoạt động trong làng nghề

Hộ không có người hoạt động

làng nghề

Số lượng

(người)

Cơ cấu

(%)

Số lượng

(người)

Cơ cấu

(%)

1.Các bệnh hô hấp

30

100.00

30

100.00

Viêm họng mãn tính

14

46.67

9

30.00

Viêm mũi dị ứng

23

76.67

11

36.67

Viêm mũi mãn tính

8

26.67

3

10.00

Viêm Amidal mãn tính

10

33.33

3

10.00

3.Bệnh răng miệng

5

16.67

6

20.00

4.Bệnh mắt

27

90.00

21

70.00

5.Bệnh ngoài da

30

100.00

10

33.33

7.Bệnh tiết niệu

3

10.00

4

13.33

8. Bệnh do nhiệt độ cao

 

0.00

 

0.00

Chuột rút

28

93.33

16

53.33

Đột quỵ, say nhiệt

22

73.33

8

26.67

9. Ung thư liên quan tới hô hấp

1

3.33

0

0.00

Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra 2016

            Loại bệnh phổ biến thứ hai là các loại bệnh về mắt và bệnh ngoài da. Với đặc điểm thường xuyên làm việc trong môi trường đầy bụi bông và khí độc, nhiều người dân xuất hiện các hiện tượng bị tấy da, đỏ da hoặc gây ngứa suốt quá trình làm việc. Nhiệt độ nóng và hơi hóa chất cũng khiến mắt thường xuyên bị cay, mờ khi tiếp xúc. Quan trọng hơn, môi trường nhiệt độ cao khiến rất nhiều người dân bị chuột rút hoặc say nhiệt. Theo nhiều người dân, có nhiều trường hợp cố làm việc đã bị say nhiệt và phải ra ngoài nghỉ ngơi trước khi tiếp tục công việc.

Bảng 3.6. Đánh giá các hoạt động gây ô nhiễm không khí tác động đến sức khỏe người dân tại các cơ sở sản xuất lụa

Nội dung

Hoạt động nghề

trong làng nghề

Không hoạt động

trong làng nghề

Số lượng

(người)

Cơ cấu

(%)

Số lượng

(người)

Cơ cấu

(%)

1. Các loại thuốc nhuộm gây ra mùi khó chịu

26

86.67

27

90.00

2. Bụi bông gây bệnh ho

30

100.00

24

80.00

3. Khói than gây khó thở

24

80.00

19

63.33

4. Nhiệt độ cao trong xưởng gây khó chịu

21

70.00

0

0.00

5. Hóa chất nhuộm gây cay mắt thường xuyên

20

66.67

3

10.00

6. Da thường bị ngứa và bị ăn khi tiếp xúc nguồn nước nhuộm

22

73.33

7

23.33

7. Có người chết vì ung thư

3

10.00

1

3.33

Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra 2016

Đánh giá các hoạt động gây ô nhiễm tới sức khỏe con người tại các cơ sở sản xuất, kết quả cho thấy, các hóa chất được sử dụng trong quá trình nhuộm của làng nghề gây ra mùi khó chịu cho người dân; bụi bông và khói than được xem là nguyên nhân chính gây ho và các bệnh hen suyễn. Hóa chất tẩy rửa, nhuộm gây ra những bệnh lý về mắt là những ảnh hưởng chính của ô nhiễm không khí tơi sức khỏe.

·         Ảnh hưởng của ô nhiễm nguồn nước

Ảnh hưởng bởi nguồn nước bị ô nhiễm được xem là ảnh hưởng nặng nề nhất tới sức khỏe của con người. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người mắc các bệnh liên quan tới ô nhiễm nguồn nước tại làng nghề là rất cao kể cả các người làm trong nghề dệt và người không làm trong nghề dệt.

Bảng 3.7. Một số loại bệnh người dân mắc phải do ô nhiễm nguồn nước

Loại bệnh

Hoạt động nghề

trong làng nghề

Không hoạt động

trong làng nghề

Số lượng

(người)

Cơ cấu

(%)

Số lượng

(người)

Cơ cấu

(%)

Tiêu chảy

20

66.67

15

50.00

Tay, chân, miệng

21

70.00

22

73.33

Sốt rét

2

6.67

1

3.33

Sốt xuất huyết

20

66.67

19

63.33

Ký sinh trùng khác

0

0.00

0

0.00

Giun sán

26

86.67

21

70.00

Bệnh ngoài da

30

100.00

20

66.67

Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra 2016

Nhiều người cho biết, nước thải từ các làng nghề đã bức tử nhiều con sông, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho nguồn nước mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn, trực trùng, kí sinh trùng phát triển. Trong đợt dịch bệnh tay chân miệng năm 2013 – 2014. Rất nhiều hộ gia đình có trẻ em nhỏ sinh sống xung quanh các khu vực sản xuất đều bị nhiễm sốt xuất huyết. Bên cạnh đó, có tới 66,67% số người được hỏi cho biết họ từng bị tiêu chảy hoặc bị các bệnh về đường ruột khi mùa mưa đến. Nước thải từ các cống rãnh không được khơi thông sẽ dâng lên và làm ảnh hưởng tới môi trường sống của người dân

Bảng 3.8. Đánh giá của người dân về ô nhiễm nguồn nước tại địa phương

Loại bệnh

Người có hoạt động nghề trong làng nghề

Người không hoạt động trong làng nghề

Số lượng

(người)

Cơ cấu

(%)

Số lượng

(người)

Cơ cấu

(%)

1. Nguồn nước nhiều màu sắc và có mùi khó chịu

24

80.00

24

80.00

2. Nước thải tồn đọng và có nhiều bọ gậy

29

96.67

20

80.00

3. Các loại hóa chất không rõ nguồn gốc gây ô nhiễm nước

23

76.67

18

80.00

4. Rất nhiều các loại hóa chất được sử dụng

30

100.00

28

80.00

5. Các sinh vật không thể sống được ở các kênh rạnh

30

100.00

30

80.00

6. Nước thải chứa dịch keo rất nhiều hóa chất và khó tẩy rửa

25

83.33

18

80.00

7. Các hộ sản xuất không quan tâm tới môi trường

25

83.33

30

80.00

8. Chính quyền địa phương không có phương án giải quyết triệt để

21

70.00

25

80.00

Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra 2016

Hầu hết các đánh giá về tình trạng ô nhiễm nguồn nước ở địa phương đều rất tiêu cực. Có tới 80% số người được hỏi trả lời nguồn nước thải và nguồn nước mặt bị nhiễm bẩn, nhiều màu sắc và có mùi khó chịu. Xung quanh các khu vực sản xuất do không được vệ sinh thường xuyên nên lượng chất thải tồn đọng ở các dụng cụ, sinh ra nhiều bọ gậy, lăng quăng, tạo ra nhiều loại bệnh lý cho người dân trong đó có sốt xuất huyết. 100% số người được hỏi cũng cho biết rất nhiều các loại hóa chất được sử dụng trong quá trình nhuộm, nhiều hộ sử dụng hóa chất nhuộm không rõ nguồn gốc, hóa chất xuất xứ từ Trung Quốc nên có thể khiến ô nhiễm môi trường nặng nề hơn. Thêm nữa, theo nhiều lao động cũng như người dân sinh sống tại khu vực làng nghề, các hộ sản xuất cũng không chú ý tới việc giữ gìn môi trường, việc xả thải không kiểm soát và không xây dựng hệ thống xử lý nước thải.

·         Ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn

Trong thời gian gần đây, ngày càng nhiều lao động bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm tiếng ồn ở các làng nghề nói chung và ở Vạn Phúc nói riêng. Bảng 3.9 cho thấy một số loại bệnh người dân mắc phải do ô nhiễm tiếng ồn. Cụ thể, đối với người dân hoạt động trong các cơ sở sản xuất của làng nghề 83,33% số người được hỏi cho biết khả năng nghe có dấu hiệu kém do hàng ngày phải nghe tiếng ồn của các loại máy xe sợi, trái lại, ở các hộ không làm việc tỏng làng nghề thì tỷ lệ này chỉ là 33,33%. Đau đầu thường xuyên là chứng bệnh mà người dân tại làng nghề Vạn Phúc mắc phải. Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% số người dân được hỏi, cho biết họ thường cảm thấy đau đầu sau khi làm việc. Đặc biệt số người sống xung quanh các cơ sở cũng cho biết họ cũng hay gặp phải chứng đau đầu do sáng sớm và ban đêm phải nghe tiếng động từ các loại máy móc.

Bảng 3.9. Một số loại bệnh người dân mắc phải do ô nhiễm tiếng ồn

Loại bệnh

Hoạt động nghề

trong làng nghề

Không hoạt động

trong làng nghề

Số lượng

(người)

Cơ cấu

(%)

Số lượng

(người)

Cơ cấu

(%)

Suy giảm thính lực

25

83.33

10

33.33

Đau đầu

30

100.00

20

66.67

Mệt mỏi

30

100.00

26

86.67

Các bệnh về tai

10

33.33

8

26.67

Căng thẳng thần kinh

24

80.00

22

73.33

Dễ bực bội, cáu giận

26

86.67

9

30.00

Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra 2016

Việc liên tục chịu ô nhiễm âm thanh khiến hầu hết người trả lời đều cho biết họ bị căng thẳng về thần kinh. Kết quả kiểm tra sức khỏe định kỳ của các người dân được hỏi, cũng cho thấy, huyết áp của nhiều người tăng dẫn đến dễ bực bội và cáu giận. Đánh giá về nguyên nhân gây ô nhiễm tiếng ồn trên địa bàn, kết quả cho thấy, mặc dù tình trạng bệnh lý của các người dân không làm trong làng nghề cao hơn các người làm nghề nhưng đánh giá về nguyên nhân gây ô nhiễm thì tỷ lệ người cho biết nguyên nhân gây ô nhiễm tiếng ồn từ các hoạt động sản xuất là lao động làng nghề lại tương đối thấp hơn. Cụ thể, đánh giá tiếng ồn là do máy xe sợi chạy liên tục đối với người làm nghề chỉ chiếm 86,67% trong khi con số này đối với người sống xung quanh là 100%. Nhiều người dân cũng cho biết, các xe chở hàng thường xuyên ra vào các cơ sở, tiếng máy xe, mùi xăng và tiếng người cũng gây nên bầu không khí căng thẳng cho người dân. Đặc biệt là thời điểm sáng sớm khi nhiều hộ còn chưa thức dậy. Hoạt động sản xuất thậm chí còn kéo dài cả thời gian tối khiến nhiều người dân cảm thấy không thoải mái do không được nghỉ ngơi sau thời gian dài làm việc.

Bảng 3.10. Đánh giá của người dân về tiếng ồn tại các cơ sở sản xuất

Loại bệnh

Hoạt động nghề

trong làng nghề

Không hoạt động

trong làng nghề

Số lượng

(người)

Cơ cấu

(%)

Số lượng

(người)

Cơ cấu

(%)

1. Các loại máy xe sợi chạy liên tục

26

86.67

30

100.00

2. Xe chở hàng thường xuyên ra vào

14

46.67

22

73.33

3. Các xưởng hoạt động gây tiếng ồn cả vào ban đêm

15

50.00

26

86.67

4. Máy dệt lụa tạo ra rất nhiều tiếng ồn

17

56.67

30

100.00

Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra 2016

3.3. Ứng xử người dân trong bảo vệ sức khoẻ từ ô nhiễm môi trường làng nghề

·         Số liệu dùng cho phân tích và mô hình kinh tế lượng

- Nguồn số liệu

Số liệu sử dụng cho phân tích là số liệu điều tra của đề tài năm 2016 với quy mô 60 hộ dân. Số liệu được thu thập theo phương pháp ngẫu nhiên các người dân làm việc tại các cơ sở sản xuất của làng nghề Vạn Phúc và các hộ dân sinh sống xung quanh các cơ sở.

- Mô hình kinh tế lượng

Chi phí cá nhân chi trả cho bản thân, bao gồm các thành phần:

(i) Độ thỏa dụng giảm khi có tác động từ môi trường (ví dụ thời gian giải lao, nghỉ ngơi)

(ii) Chi phí thuốc men chữa bệnh của người dân từ tác động của môi trường,

(iii) Lương giảm bởi sức khỏe bị ảnh hưởng do môi trường,

(iv) Chi phí phòng chống bệnh tật của người dân từ tác động của môi trường.

Do đó chi phí trả cho việc giảm mức ô nhiểm là khoản giá trị cá nhân dành cho 4 thành phần trên:

Mô hình cụ thể của nghiên cứu

Đối tượng điều tra là người dân làm tại các xưởng dệt lụa

Ln(CA) = a1 + b0L+b1Age + b2Wage + b3Edu + b4Gender + b5Time +b6Perception + b7Temperature +b8Investment + b9Tech

Biến số

Ý nghĩa

Chi phí khám chữa bệnh

(CA)

Là biến phụ thuộc được thu thập để tìm hiểu lượng tiền hàng năm được trang trải cho kinh phí khám chứa bệnh của người dân và lao động làng nghề Vạn Phúc. Chi phí khám chữa bệnh được kỳ vọng là cơ sở quan trọng để đánh giá việc phòng chống lại các tác động xấu từ môi trường tới sức khỏe người dân

L (Biến giả)

Người dân làm nghề hoặc người dân không làm nghề nhuộm, dệt

Tuổi (Age)

Theo quan sát tuổi được kỳ vọng có ảnh hưởng tới chi phí khám chữa bệnh của người làm nghề. Đối với độ tuổi trẻ, mới tiếp xúc với ô nhiễm làng nghề, do sức chống chịu của cơ thể tốt nên ít mắc phải các bệnh ô nhiễm hơn, từ đó giảm thiểu được chi phí khám chữa bệnh hàng năm. Kỳ vọng của biến là làm giảm chi phí khám chữa bệnh

Lương (Wage)

Mức lương nhận được hàng tháng cũng là yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng chi tiêu cho chăm lo sức khỏe của lao động. Mức lương nhận được ở mức cao hơn sẽ giúp người lao động có thêm ngân sách để kiểm tra, khám và điều trị bệnh

Giới tính (Gender)

là biến giả nhận giá trị là 1 nếu là nam giới và 0 nếu là nữ giới. Thực tế nhiều nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa nam và nữ trong ứng xử với ô nhiễm môi trường. Nghiên cứu kỳ vọng các lao động nữ có xu hướng gia tăng chi phí khám chữa bệnh hơn các lao động nam

Thời gian làm việc (Time)

Thời gian làm việc được tính bằng h/ngày là yếu tố quan trọng để đánh giá tác động tới chi phí khám chữa bệnh của lao động. Khi thời gian làm việc kéo dài, người lao động càng phải tiếp xúc nhiều hơn với ô nhiễm trong khi thể lực có xu hướng giảm xuống, từ đó càng làm trầm trọng hơn các loại bệnh do ô nhiễm môi trường gây ra

Nhận thức khi môi trường có ảnh hưởng xấu hay không (Perception)

Nhận thức về môi trường là một yếu tố cần thiết để đánh giá tác động của môi trường. Nghiên cứu kỳ vọng người dân có nhận thức tác động xấu từ môi trường tới sức khỏe tốt sẽ làm gia tăng chi phí khám chữa bệnh phòng ngừa các tác động tiêu cực của môi trường

Nhiệt độ xưởng sản xuất

(Temperature)

Như đã phân tích ở trên, nhiệt độ gây ra một loạt các vấn đề về sức khỏe của người lao động, là nguyên nhân chính gây ra nhiều tác hại tới sức khỏe con người. Vì vậy nghiên cứu kỳ vọng với các đối tượng phải làm việc trong môi trường có nhiệt độ cao hơn sẽ làm gia tăng chi phí khám chữa bệnh

Chi phí cải thiện môi trường (Investment)

Môi trường chỉ có thể tốt hơn bởi chính xác chủ xưởng dệt chịu bỏ các chi phí để cải thiện môi trường. Do đó, chi phí cải thiện môi trường được kỳ vọng sẽ làm giảm chi phí khám chữa bệnh của người dân

Công nghệ sử dụng

(Tech)

Số liệu thu thập về công nghệ đang sử dụng được nhận hai giá trị là 0 và 1 với 1 là việc sản xuất có áp dụng máy móc, kỹ thuật còn 0 là làm thủ công. Việc sản xuất thủ công khiến người lao động phải trực tiếp tiếp xúc với các loại hóa chất và chất thải, gây ra ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe. Nghiên cứu kỳ vọng càng có nhiều công nghệ áp dụng máy móc được sử dụng sẽ làm giảm chi phí khám chữa bệnh của người dân

 

·         Kết quả mô hình, ý nghĩa và phân tích

Kết quả phân tích mô hình hồi quy cho thấy, mô hình chặt chẽ ở độ tin cậy 90%, 94% sự thay đổi của chi phí khám chữa bệnh hàng năm giảm thiểu rủi ro ô nhiễm môi trường bị ảnh hưởng bởi các biến đầu vào. Trong đó các biến có ý nghĩa thống kê gồm có: Biến Hộ là lao động trong làng nghề; Biến tuổi; Biến Lương; Biến nhiệt độ trong xưởng và biến công nghệ.

Bảng 3.11. Kết quả ước lượng

Tham số

Giá trị ước

lượng

P-Value

Multiple R

0.972

 

R Square

0.945

 

Adjusted R Square

0.934

 

F

84.58115942

2.19915E-27

Hệ số tự do

5.337

0.0000

Hộ là lao động trong làng nghề

-0.109*

0.0968

Tuổi

0.010**

0.0157

Giới tính

0.016ns

0.8326

Lương

0.00028***

0.0000

Thời gian làm việc

0.080***

0.0033

Nhận thức môi trường tác động xấu

-0.098ns

0.1389

Số năm đi học

0.021ns

0.1790

Nhiệt độ trong xưởng

0.040***

0.0078

Chi phí đầu tư cải thiện môi trường

0.000ns

0.1252

Cách thức dệt nhuôm

-0.256***

0.0002

- Người dân làm nghề nhuộm, dệt: Kết quả ước lượng biến có hệ số -0.109 cho thấy người dân không làm nghề sẽ làm giảm chi phí khám chữa bệnh hàng năm. Như vậy có thể thấy, người làm trực tiếp nghề dệt, nhuộm sẽ làm gia tăng chi phí khám chữa bệnh.

- Tuổi. Hệ số ước lượng 0.01 cho thấy khi tuổi của người dân tăng 1 tuổi sẽ làm tăng chi phí khám chữa bệnh tăng 0,01 triệu đồng (10.000 đồng). Kết quả này phù hợp với kỳ vọng của nghiên cứu

- Lương: Hệ số ước lượng 0,00028 cho thấy khi mức lương tăng 1.000.000 đồng/tháng sẽ làm tăng chi phí khám chữa bệnh của người làm nghề lên 280 đồng/năm. Kết quả này phù hợp với xu hướng của kỳ vọng của nghiên cứu.

- Thời gian làm việc: Hệ số ước lượng 0,08 cho thấy khi tăng thêm 1 giờ làm việc sẽ là tăng chi phí khám chữa bệnh lên 80.000 đồng/năm.

- Nhiệt độ trong xưởng: Hệ số ước lượng 0,04 cho thấy khi nhiệt độ xưởng sản xuất tăng thêm 1 độ sẽ làm chi phí khám chữa bệnh của người làm nghề tăng 40.000 đồng/năm

- Công nghệ: Hệ số ước lượng – 0.256 đây là hệ số lớn nhất trong các biến. Thể hiện rằng khi các cơ sở sản xuất ứng dụng các công nghệ mới, công nghệ sạch vào sản xuất sẽ làm giảm đáng kể chi phí khám chữa bệnh do ô nhiễm môi trường của người làm nghề nghề.

 

4. Kết luận

Nghiên cứu đã chỉ ra được sơ đồ dòng thải của quá trình dệt nhuộm tại làng nghề vạn Phúc với các tác nhân gây ô nhiễm chính là Tơ vụn, tiếng ồn, nước thải, khí đốt than, hóa chất và hơi hóa chất. Trong đó, các loại hóa chất là nguyên nhân chủ yếu gây ra ô nhiễm môi trường. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các chỉ số đánh giá ô nhiễm không khí cả trong và ngoài nơi sản xuất đều vượt ngưỡng cho phép nhiều lần đặc biệt là hàm lượng khí SO2, CO, NO2. Đối với ô nhiễm môi trường nước, lượng nước thải từ các cơ sở tới môi trường là khá lớn hàm lượng COD, BOD đều vượt ngưỡng cho phép gây tác động xấu tới môi trường trong đó có nguồn nước ngầm và nguồn nước mặt.

            Về tác động của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe người dân, kết quả nghiên cứu cho thấy các hộ có hoạt động trong làng nghề có tỷ lệ người dân mắc các loại bệnh do ô nhiễm cao hơn. Trong đó, đối với các bệnh hô hấp do ô nhiễm không khí, nhiều nhất là bệnh viêm mũi dị ứng với 76,67% và viêm họng mãn tính với 46,67%. Bên cạnh đó hầu hết người lao động đều bị các bệnh về mắt và ngoài da. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy người dân đều cho rằng các hoạt động của làng nghề là nguyên nhân chính dẫn tới các loại bệnh. Với các loại bệnh do ô nhiễm nguồn nước gây ra, Đây được xem là nguồn ô nhiễm nặng nhất, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bị nhiễm các loại bệnh về tiêu hóa và ung thư của các hộ dân là khá cao. Bên cạnh ô nhiễm không khí và nguồn nước. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ô nhiễm tiếng ồn có ảnh hưởng ngày càng nghiệm trọng tới cuộc sống của người dân. Các kết quả khảo sát cho thấy. các biểu hiện bệnh lý do ô nhiễm tiếng ồn như đau đầu,rối loạn giấc ngủ, … xảy ra với hầu hết lao động trong làng nghề. Trong khi đó các đối tượng khác có mức ảnh hưởng thấp hơn.

Sử dụng mô hình hồi quy để phân tích mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới ứng xử ngăn ngừa rủi ro của người dân cho thấy, với các số liệu đã thu thập, trong các biến số được chọn cho thấy các lao động đang hoạt động trong làng nghề phải hứng chịu nhiều rủi ro từ ô nhiễm do đó làm tăng chi phí khám chữa bệnh hàng năm cao hơn so với các đối tượng khác. Trong khi đó, yếu tố công nghệ cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới chi phí khám chữa bệnh của người dân.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      “Báo cáo kết quả 1 năm thực hiện kế hoạch số 73/KH-UBND ngày 23/6/2014 về việc tiếp tục thực hiện phát triển thương mại dịch vụ làng nghề truyền thống năm 2014 và những năm tiếp theo”, UBND phường Vạn Phúc.

2.      Báo cáo Tổng kết kinh tế - xã hội phường Vạn Phúc giai đoạn 2013-2015 của UBND phường Vạn Phúc

3.      Đặng Kim Chi (2005), “ Làng nghề Việt Nam và Môi trường”, NXB Khoa Học Kỹ Thuật.

4.      Phạm Thị Kim Cúc (2009) “Môi trường làng nghề và những vấn đề đặt ra”, Tạp chí mặt trận 2009

http://www.vawr.org.vn/index.aspx?aac=CLICK&aid=ARTICLE_DETAIL&ari=1868&lang=1&menu=tin-trong-nuoc&mid=177&parentmid=131&pid=1&storeid=0&title=giam-o-nhiem-moi-truong-o-cac-lang-nghe

5.      Lê Kim Nguyệt (2012), “Thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ môi trường tại các làng nghề ở Việt Nam”. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, luật học 28 (2012) 180 - 185

6.      Nguyễn Quốc Tuấn Cường, (2011), “Nghiên cứu vấn đề môi trường trong phát triển làng nghề ở huyện Văn Lâm-tỉnh Hưng Yên”, Luận văn Thạc sỹ, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.

7.      Nguyễn Mậu Dũng (2008) “Tình hình thực thi chính sách bảo vệ môi trường của nhà máy sản xuất giấy Bắc Ninh - Việt Nam”, Trích dẫn bởi Thái Thị Nhung

8.      Nguyễn Trinh Hương (2014) “Môi trường và sức khỏe cộng đồng tại các làng nghề ở Việt Nam”, - Hosomoitruong.vn 2014

http://hosomoitruong.vn/tin-tuc-moi-truong/92-moi-truong-va-suc-khoe-cong-dong-tai-cac-lang-nghe-o-viet-nam.html

http://lienketviet.net/blog/151/lang-nghe-thu-cong-truyen-thong-khai-niem/

9.      Nguyễn Hằng (2011) “Tác hại của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe cộng đồng”, Tổng cục mội trường – Bộ TN&MT.

http://vea.gov.vn/vn/truyenthong/tapchimt/skhd42009/Pages/T%C3%A1c-h%E1%BA%A1i-c%E1%BB%A7a-%C3%B4-nhi%E1%BB%85m-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-l%C3%A0ng-ngh%E1%BB%81-%C4%91%E1%BA%BFn-s%E1%BB%A9c-kh%E1%BB%8Fe-c%E1%BB%99ng-%C4%91%E1%BB%93ng.aspx

10.  Nguyễn Thị Thu Hường (2015) “Các chính sách nhà nước về môi trường tại làng nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam”, Môi trường Việt Nam.

http://moitruongviet.edu.vn/chinh-sach-nha-nuoc-ve-moi-truong-tai-lang-nghe-thu-cong-my-nghe-viet-nam/

11.  “Kế hoạch tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phát triển thương mại dịch vụ làng nghề truyền thống năm 2014 và những năm tiếp theo”, UBND phường Vạn Phúc 2014.

12.  Lê Kim Nguyệt (2012) “Thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ môi trường ở các làng nghề Việt Nam”, tạp chí khoa học ĐHQGHN, Luật học 28(2012) 180-185

js.vnu.edu.vn/index.php/LS/article/download/1140/1108

13.   Thái Thị Nhung (2011) “Tác động của phát triển làng nghề sắt, thép Đa Hội đến môi trường xã Châu Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh”, Báo cáo khoa học, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.

14.  “Tình hình triển khai chính sách phát triển làng nghề trên địa bàn quận Hà Đông năm 2014”, UBND quận Hà Đông 2014

15.  Lê Thị Thanh Thúy (2014) “Đánh giá ảnh hưởng ô nhiễm môi trường làng nghề đến sức khỏe cộng đồng trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”. Luận văn thạc sỹ Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

 

Nguyễn Mạnh Hiếu