Dương Nam Hà*, Nguyễn Hữu Nhuần, Phạm Văn Hùng

*Email: dnha@vnua.edu.vn

Tóm tắt

    Nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận tổng quan có hệ thống (systematic review) nhằm nhìn nhận lại xu hướng nghiên cứu về "nông nghiệp thông minh" trên thế giới. Sử dụng 179 bài báo khoa học trên các tạp chí có phản biện được trích xuất từ cơ sở dữ liệu Scopus, các kết quả ban đầu đã giúp trả lời 10 luận điểm được đưa ra dưới dạng giả thuyết nghiên cứu. Nội dung chính của bài tập trung vào phân bố của các nghiên cứu về “nông nghiệp thông minh” theo thời gian và không gian cũng như các nhóm chủ đề nghiên cứu đang được quan tâm nhất về “nông nghiệp thông minh”. Các kết quả tìm được cũng làm cơ sở để đưa ra các khuyến nghị cho Việt Nam và hướng nghiên cứu tiếp theo về nông nghiệp thông minh.

Từ khóa

    Tổng quan có hệ thống, Nông nghiệp thông minh

 

    Bài đăng tải trên website này là bản rút gọn so với bản báo cáo đầy đủ được đăng trên Kỳ yếu hội thảo “ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG NỀN NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG THỜI KỲ 4.0” tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, ngày 4/7/2018. Nếu độc giả quan tâm chi tiết hơn, xin liên hệ tác giả qua thư điện tử.

 

1.    ĐẶT VẤN ĐỀ

    Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, yêu cầu hiện đại hóa nông nghiệp để bắt kịp sự phát triển chung của thế giới, của xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu và nâng cao sức cạnh tranh cho nền kinh tế và ngành nông nghiệp là rất cấp bách. Các văn kiện Đại hội Đảng cũng đã đề cập rất sớm về hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông nghiệp bền vững. Các chính sách từ Chính phủ cũng đang tập trung hướng tới nâng cao giá trị gia tăng đang ở mức rất thấp của ngành nông nghiệp và tìm ra con đường phù hợp cho nông dân và nông nghiệp nước nhà. Tất cả đều đang cần những lý luận và thực tiễn để phát triển nông nghiệp một cách bền vững.

Trong những nghiên cứu tổng quan lý thuyết nổi bật gần đây về nông nghiệp bền vững, các chiến lược ‘đổi mới’ (innovation) và ‘hiện đại’ (modern) trong phát triển nông nghiệp bền vững thuộc vào nhóm‘kiến thức và khoa học’ (knowledge & science) (Velten, Leventon, Jager, và Newig, 2015). Trong đó, các nghiên cứu về chiến lược ‘đổi mới’ là một trong những dòng chủ đề chính được nhắc đến nhiều thứ hai theo thời gian sau các chiến lược về ‘tính hiệu quả’. Nhóm các chủ đề nổi bật nhất về mục đích của nông nghiệp bền vững bao gồm khả năng phát triển kinh tế (economic viability), cung ứng sản phẩm (provision of products), bảo tồn & cải thiện môi trường (environment conservation & improvement), bảo tồn tài nguyên thiên nhiên (natural resource conservation) và ổn định & phục hồi (stability & resilience). Có lẽ, tất cả các mục tiêu này đều được trông đợi trong ‘nông nghiệp thông minh’ mà chúng ta đang hướng đến.

    Bài viết này được chuẩn bị cho tham luận tại hội thảo “Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và đào tạo nguồn nhân lực thời đại 4.0” tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Chúng tôi nhận thấy khái niệm “Nông nghiệp thông minh” hay “Nông nghiệp 4.0” còn khá mới và thiếu nghiên cứu lý thuyết một cách hệ thống về nông nghiệp thông minh, không chỉ riêng với Việt Nam mà còn trên phạm vi thế giới. Do đó, cần phải hiểu rõ lý luận để định hướng hành động phù hợp trong nghiên cứu cũng như thực tiễn về nông nghiệp thông minh.

    Nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận tổng quan có hệ thống (systematic review) nhằm nhìn nhận lại xu hướng nghiên cứu về "nông nghiệp thông minh" trên thế giới (Delgado-Rodriguez, 2001; Livinski, Joubert, & Terry, 2015). Do đó có thể nghiên cứu này không đi riêng vào một tình huống cụ thể nào nhưng sẽ xác định và lượng hóa các nghiên cứu hiện có về nông nghiệp thông minh theo thời gian cũng như các khu vực địa lý công bố nhiều nhất hay hướng nghiên cứu phổ biến... Những thông tin này sẽ giúp các nghiên cứu tiếp theo về nông nghiệp thông minh định hướng các vấn đề cần triển khai sâu và rộng hơn với nguồn tài liệu tương ứng, đồng thời khắc phục các thiếu hụt về lý luận hiện tại. Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu này cũng có thể giúp Việt Nam so sánh và định hình cách tiếp cận nông nghiệp thông minh dựa trên xu hướng của thế giới.

    Với việc áp dụng phương pháp tổng quan có hệ thống trong nghiên cứu về nông nghiệp thông minh và mong muốn chia sẻ những kinh nghiệm và kết quả ban đầu qua bài tham luận này, nhóm tác giả tập trung vào hai câu hỏi nghiên cứu sau:

a)       Phân bố của các nghiên cứu về “nông nghiệp thông minh” theo thời gian và không gian như thế nào?

b)      Các nội dung chủ yếu trong nghiên cứu về “nông nghiệp thông minh” là gì?

 

2.    PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan có hệ thống (Systematic review)

    Trong các nghiên cứu về lý thuyết, có ba phương pháp cơ bản nhất là tổng quan truyền thống hay còn gọi là tổng quan tường thuật (Narrative review), tổng quan có hệ thống (Systematic review) và siêu phân tích (Meta-analysis) (Pickering & Byrne, 2013; Terry & Joubert, 2014). Tổng quan có hệ thống và siêu phân tích thường bắt đầu với câu hỏi nghiên cứu hoặc giả thuyết nghiên cứu (hypothesis) rõ ràng, rồi tiếp cận với cơ sở dữ liệu lớn các công trình có liên quan với các tiêu chí sàng lọc cụ thể và sau đó tổng hợp, phân tích với các phương pháp nghiêm ngặt để có thể kết luận được về chất lượng các công trình đó (Liberati và cộng sự, 2009; Livinski và cộng sự, 2015; Terry & Joubert, 2014).

    Ở đây, nhóm tác giả lựa chọn phương pháp tổng quan có hệ thống vì sự phù hợp với tính chất của nghiên cứu này. Chúng tôi chưa áp dụng siêu phân tích vì siêu phân tích là phương pháp thiên về định lượng và rất khó để tổng hợp thông tin định tính để tương thích với cách phân tích đó. Trong khi đó, phương pháp tổng quan có hệ thống lại chấp nhận cả hai hướng tiếp cận là định lượng và định tính (Delgado-Rodriguez, 2001). Với chủ đề mới như nông nghiệp thông minh thì rất có thể nhiều công bố hiện tại sẽ cung cấp thông tin định tính hơn định lượng và chúng tôi không muốn bỏ qua góc độ này của lý luận.

2.2 Chiến lược tìm kiếm và phân tích

Cơ sở dữ liệu

    Trước hết, chúng tôi nhấn mạnh nội dung tìm hiểu là chủ để mới nên cần đảm bảo tính khoa học và độ tin cậy học thuật cao nên nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các bài báo có phản biện (peer-reviewed) trên các tạp chí khoa học. Do đó, các tác giả lựa chọn cơ sở dữ liệu (CSDL) Scopus của Elsevier để tìm kiếm các công bố liên quan đến chủ đề nông nghiệp thông minh.

Tiêu chí lựa chọn

    Trong CSDL Scopus, chúng tôi tìm kiếm hai cụm từ khóa sử dụng TITLE-ABS-KEY “smart agriculture” (nông nghiệp thông minh) và “agriculture 4.0” (nông nghiệp 4.0) một cách chính xác để cho ra kết quả liên quan trực tiếp đến hai chủ đề này. Tại thời điểm tìm kiếm (ngày 09/06/2018), có 371 kết quả cho từ khóa “smart agriculture” (Hình 1) và chỉ có 4 kết quả cho “agriculture 4.0”. Rất tiếc là 4 kết quả này đều không phải đăng trên các tạp chí khoa học mà là các bài hội thảo (2 bài), chương sách (1 bài) và ghi chú (1 bài) nên không được xem xét chi tiết trong phân tích của bài tham luận này. Như vậy, có thể nói các phân tích sau đây chỉ tập trung vào “nông nghiệp thông minh” với cụm từ khóa “smart agriculture”. Với sự quan tâm vào chất lượng của các công bố, chúng tôi chỉ tập trung vào 179 bài báo có phản biện trên các tạp chí khoa học, chiếm 48,2% lượng công bố hiện có.

Hình 1. Phân bố các loại tài liệu liên quan đến “nông nghiệp thông minh”

Nguồn: Tổng hợp từ CSDL Scopus đến 09/06/2018

Trích xuất, mã hóa và phương pháp phân tích

Sau khi truy vấn với cụm từ khóa đã chọn, kết quả tìm kiếm được truy xuất từ Scopus dưới dạng .csv (comma delimited) rồi tổng hợp theo bảng MS Excel để tạo bộ dữ liệu cho phân tích. Bốn nhóm thông tin được trích xuất từ Scopus gồm: Thông tin trích dẫn (Citation information), Thông tin tiểu sử (Bibliographical information), Tóm tắt & từ khóa (Abstract & keywords) và Chi tiết tài trợ (Funding details). Những thông tin được trích xuất là đầu vào cho bảy tiêu chí phân tích được xác định theo hai câu hỏi nghiên cứu (Bảng 1).

Bảng 1. Các chỉ tiêu, giả thuyết và kì vọng nghiên cứu về nông nghiệp thông minh

STT

Chỉ tiêu nghiên cứu

Giả thuyết (H)

Với câu hỏi 1về phân bố của các nghiên cứu về “nông nghiệp thông minh”

1

Năm công bố chủ yếu

H1: “Nông nghiệp thông minh” là chủ đề nghiên cứu mới.

2

Nơi công bố chủ yếu: theo quốc tịch tác giả (quốc gia, khu vực), theo tạp chí và theo nhà xuất bản

H2a: Nghiên cứu về “nông nghiệp thông minh” chủ yếu được công bố từ các nước đã phát triển.

H2b: Nghiên cứu về “nông nghiệp thông minh” chủ yếu được công bố từ các khu vực đã phát triển.

H3: Các tạp chí đăng bài nhiều nhất về “nông nghiệp thông minh” có mức uy tín học thuật trung bình thuộc nhóm phân vị Q2 và Q3 theo Scimago.

H4: Nghiên cứu về “nông nghiệp thông minh” chủ yếu được công bố từ các nhà xuất bản nổi tiếng.

3

Tổ chức nghiên cứu nổi bật

H5: Nghiên cứu về “nông nghiệp thông minh” chủ yếu được công bố bởi các tổ chức nghiên cứu chuyên về nông nghiệp.

4

Tác giả công bố nhiều nhất

H6: Nghiên cứu về “nông nghiệp thông minh” được công bố nhiều nhất bởi các tác giả chuyên về nông nghiệp từ các nước đã phát triển.

5

Ngôn ngữ công bố chính

H7: Ngôn ngữ chính trong các nghiên cứu về “nông nghiệp thông minh” được công bố bằng tiếng Anh.

Với câu hỏi 2 về nội dung chủ yếu trong nghiên cứu về “nông nghiệp thông minh”

6

Chủ đề được tập trung chủ yếu

H8: Trong nghiên cứu về “nông nghiệp thông minh”, các chủ đề được tập trung công bố nhiều nhất thuộc vào nhóm khoa học nông nghiệp.

7

Độ phổ biến của nghiên cứu (dựa trên lượt trích dẫn)

H9: Đa số những công bố về “nông nghiệp thông minh” có lượt trích dẫn thấp.

H10: Những công bố về “nông nghiệp thông minh” có lượt trích dẫn nhiều nhất sử dụng cách tiếp cận liên ngành hoặc đa ngành.

Nguồn: Các tác giả

Để thể hiện khái quát hơn về phân bố theo không gian, các tác giả cũng nhóm lại nơi công bố từ cấp quốc gia sang cấp khu vực theo châu lục và chú trọng khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á để thấy được sự quan tâm về học thuật ở các nước láng giềng với Việt Nam. Đặc biệt, để làm rõ uy tín của tạp chí trong phân tích, chỉ số h-index và nhóm phân vị Q (Quartile) tương ứng được đối chiều từ trang chủ của Scimago Journal & Country Rank (Link: https://www.scimagojr.com).

 

3.    KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Trong phần trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận này, các tài liệu được truy xuất từ CSDL Scopus nói chung như sách, báo, bài đăng hội thảo, ghi chú… được gọi chung là các “công bố”. Riêng các công bố trên tạp chí khoa học có phản biện (peer-reviewed journal article) được gọi chung là các “bài báo khoa học” hoặc dạng rút gọn là “bài báo”. Khi tổng hợp công bố theo nhóm như châu lục hoặc khu vực hoặc chủ đề… thì các bài báo có thể được đếm theo lượt bài do đặc điểm được quan sát lặp lại. Do đó, tổng số lượt bài có thể lớn hơn hoặc bằng số bài thực tế.

Tóm lược kết quả chính

Sử dụng phương pháp tổng quan có hệ thống với chủ đề nông nghiệp thông minh, nghiên cứu này tập trung vào 179 bài báo khoa học trên các tạp chí có phản biện được trích xuất từ CSDL Scopus. Thông qua tổng hợp và phân tích các số liệu, nghiên cứu này khẳng định “Nông nghiệp thông minh” là chủ đề nghiên cứu mới và ngày càng được quan tâm hơn. Đến nay, các nghiên cứu về “nông nghiệp thông minh” chủ yếu được công bố từ các nước đã phát triển khi xét ở cấp độ quốc gia nhưng xét về khu vực thì ba trung tâm chính về nghiên cứu chủ đề này bao gồm châu Á, châu Âu và châu Phi (ủng hộ giả thuyết H1, H2a; bác bỏ H2b) (xem Hình 2-3).

Hình 2. Xu hướng công bố về “nông nghiệp thông minh” theo thời gian

Nguồn: Tổng hợp từ CSDL Scopus đến 09/06/2018

Hình 3. Phân bố công bố khoa học theo tác giả từ 10 quốc gia chính và khu vực trên thế giới

Nguồn: Tổng hợp từ CSDL Scopus đến 09/06/2018

Nông nghiệp thông minh đang được quan tâm ở mức độ học thuật cao vì các tạp chí đăng bài nhiều nhất chủ yếu thuộc nhóm Q1 theo Scimago, tức 25% tạp chí đầu ngành (bác bỏ H3, xem Bảng 2). Nghiên cứu về “nông nghiệp thông minh” chủ yếu được công bố từ các nhà xuất bản nổi tiếng, bởi các tác giả làm việc ở các tổ chức nghiên cứu chuyên về nông nghiệp và phần lớn là từ các nước đã phát triển (chấp nhận H4, H5, H6). Trong đó, ngôn ngữ chính trong các công bố là tiếng Anh (chấp nhận H7, xem Hình 4).

Bảng 2. Danh sách 10 tạp chí và 10 nhà xuất bản hàng đầu trong công bố bài báo về nông nghiệp thông minh

STT

Tạp chí khoa học

Số bài báo

Nhà xuất bản (đã hiệu chỉnh)

Số bài báo

1

Agricultural Systems (h-index=88, Q1)

15

Elsevier

51

2

International Journal Of Pure And Applied Mathematics (h-index=21, Q4)

5

Springer

17

3

Journal Of Peasant Studies (h-index=58, Q1)

5

Academic Press (AP)

10

4

Agriculture Ecosystems And Environment (h-index=139, Q1)

4

Blackwell Publishing

7

5

Journal Of Cleaner Production (h-index=132, Q1)

4

MDPI AG

7

6

Agricultural Water Management (h-index=97, Q1)

3

Routledge

7

7

Agriculture And Food Security (h-index=14, Q2)

3

Taylor and Francis Ltd.

5

8

Journal Of Environmental Management (h-index=131, Q1)

3

BioMed Central Ltd.

3

9

Land Use Policy (h-index=83, Q1)

3

Chinese Society of Agricultural Engineering

3

10

Plos One (h-index=241, Q1)

3

EDP Sciences

3

11

Khác

131

Khác

66

 

Tổng

179

Tổng

179

Nguồn: Truy xuất và hiệu chỉnh từ CSDL Scopus, đến 09/06/2018; chỉ số h-index và xếp hạng nhóm phân vị Q (Quartile) từ CSDL của Scimago Journal & Country Rank, 2018

Hình 4. Phân bố ngôn ngữ của các bài báo khoa học về nông nghiệp thông minh

Nguồn: Tổng hợp từ CSDL Scopus đến 09/06/2018

Về nội dung chủ yếu trong nghiên cứu về “nông nghiệp thông minh”, có thể thấy các chủ đề được tập trung công bố nhiều nhất thuộc vào nhóm khoa học nông nghiệp (chấp nhận H8, xem Hình 5). Đa số những công bố về “nông nghiệp thông minh” có lượt trích dẫn thấp, tức mức độ phổ biến về học thuật chưa cao (chấp nhận H9, xem Hình 6). Hơn nữa, những công bố về “nông nghiệp thông minh” có lượt trích dẫn nhiều nhất thường sử dụng cách tiếp cận liên ngành hoặc đa ngành (chấp nhận H10). Nói ngắn gọn thì nội dung cơ bản của nông nghiệp thông minh là: hệ thống nông nghiệp bền vững chú trọng vấn đề khí hậu và phát triển thông qua sự hỗ trợ của công nghệ thông tin hiện đại với các thiết bị di động và mạng Internet.

Hình 5. Các chuyên ngành theo nội dung nghiên cứu về nông nghiệp thông minh

Nguồn: Tổng hợp từ CSDL Scopus đến 09/06/2018

6.png
61.png

Hình 6. Phân tổ các bài báo theo số lượt trích dẫn (trái) và theo số lượt trích dẫn trên năm (phải)

Nguồn: Tổng hợp và tính toán từ CSDL Scopus đến 09/06/2018

Ngụ ý chính sách cho Việt Nam

Vì nông nghiệp thông minh là vấn đề mới nên nếu Việt Nam kịp thời thúc đẩy nghiên cứu và phát triển liên quan đến nông nghiệp thông minh thì sẽ nhanh chóng bắt kịp sự thay đổi của thế giới. Việt Nam có lợi thế nằm ở châu Á là một trong ba trung tâm về nghiên cứu nông nghiệp thông minh hiện tại và gần nhất có Ấn Độ và Trung Quốc để học hỏi và rút kinh nghiệm.

Hợp tác quốc tế với các chuyên gia từ các nước đã phát triển (như Mỹ và châu Âu) và các tổ chức chuyên về nông nghiệp như CGIAR và các trung tâm của nó nhiều hơn sẽ tận dụng được kiến thức và kinh nghiệm hàng đầu của họ về nông nghiệp thông minh.

Bên cạnh đó, đội ngũ các nhà khoa học cần sử dụng tiếng Anh thuần thục để tiếp cận các công bố về nông nghiệp thông minh vì 96% ấn phẩm loại này đang bằng tiếng Anh. Từ đó, xuất bản các bài báo tiếng Anh về nông nghiệp thông minh vì đây là vấn đề mới, sẽ có khả năng đóng góp nhiều hơn về học thuật và các tạp chí uy tín đều đang quan tâm chủ đề này.

Hạn chế của nghiên cứu

Ngoài ra, chúng tôi cũng nhận thức được những hạn chế của nghiên cứu này. Với nguồn lực hiện tại, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi tìm kiếm lý thuyết với hai cụm từ khóa liên quan trực tiếp nhất là “nông nghiệp thông minh” và “nông nghiệp 4.0”. Dù có đối chiếu nhanh với hai CSDL chuyên về kinh tế là EconLit và kinh tế nông nghiệp là AgEcon, các bài báo được phân tích được trích xuất từ nguồn cơ bản là Scopus. Phương pháp phân tích tổng quan có hệ thống trong bài này cũng khai thác nhiều về hướng mô tả thực trạng và chưa thể đi sâu vào chi tiết trong từng bài báo do thời gian không cho phép cũng như chưa thể tiến hành kiểm định thống kê để tăng độ tin cậy cho các kết luận.

Hướng nghiên cứu tương lai

Để hiểu biết về lý luận ‘nông nghiệp thông minh’ được sâu và rộng hơn, các nghiên cứu trong tương lai có thể triển khai theo hướng tìm kiếm thêm các cụm từ khóa có ý nghĩa tương đồng như “nông nghiệp điện tử” hay “nông nghiệp số”, trong tiếng Anh là “digital agriculture”. Việc này nên được mở rộng với phạm vi tìm kiếm trên các CSDL học thuật khác như Web of Science, CAB Abstracts (chuyên về nông nghiệp, môi trường, kinh tế ứng dụng, thực phẩm, thú y) hay cỗ máy tìm kiếm EBSCOhost… và bổ sung thêm các công bố khác ngoài bài báo khoa học vào phân tích để có nhìn nhận tổng quát hơn nữa. Thêm vào đó, lý luận ‘nông nghiệp thông minh’ sẽ phong phú hơn nếu các nghiên cứu sau này sử dụng các kĩ thuật như siêu phân tích (meta-analysis) hay tổng quan có hệ thống định lượng và định tính ở mức độ sâu hơn.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Delgado-Rodriguez, M. (2001). Glossary on meta-analysis. Journal of Epidemiology and Community Health, 55(8), 534-536. doi:10.1136/jech.55.8.534

Liberati, A., Altman, D. G., Tetzlaff, J., Mulrow, C., Gøtzsche, P. C., Ioannidis, J. P. A., . . . Moher, D. (2009). The PRISMA statement for reporting systematic reviews and meta-analyses of studies that evaluate healthcare interventions: explanation and elaboration. BMJ, 339.

Livinski, A., Joubert, D., & Terry, N. (2015). Undertaking a Systematic Review: What You Need to Know. Retrieved from https://www.nihlibrary.nih.gov/sites/default/files/SR_Training_oct2015.pdf

Pickering, C., & Byrne, J. (2013). The benefits of publishing systematic quantitative literature reviews for PhD candidates and other early career researchers. Higher Education Research and Development, 33, 534-548. doi:http://dx.doi.org/10.1080/07294360.2013.841651

Terry, N., & Joubert, D. (2014). Undertaking a Systematic Review: What You Need to Know. Retrieved from http://nihlibrary.campusguides.com/ld.php?content_id=1380821

Velten, S., Leventon, J., Jager, N., & Newig, J. (2015). What Is Sustainable Agriculture? A Systematic Review. Sustainability, 7(6), 7833.